Tám năm đã trôi qua kể từ cái đêm lửa nhuộm đỏ một vùng trời ở Đại Dũ.
Ngạn Hinh, năm Định Yên thứ mười.
Hoàng hôn đầu hạ buông xuống kinh thành tựa một vết cắt sâu trên cổ họng của bầu trời, chậm rãi ứa ra thứ ánh sáng đỏ quạch, đặc quánh, nhuộm rực cả không gian. Hơi nóng hầm hập bốc lên từ mặt đá, mang theo mùi ngai ngái của cỏ cây bị nung đốt sau ngày dài và mùi ẩm mốc của những góc tường khuất nắng. Hương lò gạch mới mở quyện với cái se sắt của tiết trời trước cơn giông. Trong lùm cây rậm rạp của Án sát ty, một con quạ đen trũi đơn độc cất lên tiếng kêu khô khốc, não nề, rồi tung mình bay vào khoảng trời nhập nhoạng. Đôi cánh của nó tựa lưỡi dao cạo đang rạch lên tấm lụa loang màu.
Sâu trong khuôn viên hẻo lánh, nơi có một thuỷ tạ, vạn vật dường như cũng nín thở. Mặt hồ hệt tấm gương vỡ, phản chiếu yếu ớt bầu trời với những mảng tím bầm, đỏ ửng, khiến ánh sáng bàng bạc từ vầng trăng lưỡi liềm vừa nhú và bóng tối như tan vào nhau. Cành liễu rũ rượi tựa tóc ma, khẽ lay động theo làn gió nhẹ.
Giữa đình, hai bóng người đứng đối diện nhau. Chiếc bàn đá to sụ trở thành bức tường lạnh lẽo, làm cho sự xa cách vốn có giữa họ càng thêm rõ rệt.
Một người vận cẩm bào lam sẫm, dáng tựa cây tùng trên núi cao, đai lưng được chế tác từ bạch ngọc có màu hơi ngả xanh, chạm trổ công phu hoa văn sóng nước bên dưới mây vờn, toát ra khí chất của bậc vương hầu. Song khí chất đó giờ đây đã bị bao phủ bởi cơn sóng ngầm cuộn trào.
Bình Luận